Thứ Tư, 4 tháng 6, 2008

Đường về nô lệ ( 2)

Friedrich A. von Hayek
Đường về nô lệ
Phạm Minh Ngọc dịch
Tại sao những kẻ xấu xa nhất lại leo cao nhất?

Không nghi ngờ gì rằng hệ thống “phát xít” ở Anh hay ở Mĩ sẽ khác rất xa mô hình của Ý hay Đức; không nghi ngờ gì rằng nếu việc chuyển hoá được thực hiện một cách phi bạo lực thì chúng ta có thể hi vọng có được những nhà lãnh đạo tử tế hơn. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là hệ thống phát xít của chúng ta sẽ hoàn toàn khác hay sẽ dễ chịu hơn nguyên mẫu của chúng. Có nhiều lí do để tin rằng những đặc điểm xấu xa nhất của các hệ thống toàn trị nói trên là những hiện tượng mà chế độ toàn trị trước sau gì cũng sẽ tạo ra.

Khi một chính khách dân chủ quyết định lập kế hoạch cho toàn bộ các hoạt động kinh tế thì ông ta sẽ phải đối mặt với một trong hai lựa chọn: chấp nhận chế độ độc tài hay từ bỏ kế hoạch, còn nhà lãnh đạo toàn trị thì phải giẫm lên đạo đức truyền thống nếu không muốn thất bại. Đấy là lí do vì sao trong các xã hội có khuynh hướng toàn trị, những kẻ vô liêm sỉ thường dễ thành công hơn. Không hiểu điều đó là không hiểu được khoảng cách mênh mông, có thể nói một trời một vực, giữa chế độ toàn trị và nền văn minh cá nhân chủ nghĩa phương Tây.

Đường Về Nô Lệ (1)

riedrich A. von Hayek
Đường về nô lệ
Phạm Minh Ngọc dịch
Lời người dịch: Tác phẩm Đường về nô lệ (The Road to Serfdom) xuất bản ở Anh vào tháng 3 năm 1944 và sáu tháng sau, tức là ngày 18 tháng 9 năm 1945, thì được ấn hành ở Mĩ. Phiên bản xuất hiện trên tạp chí The Reader’s Digest, được giới thiệu dưới đây, ra đời vào tháng 4 năm 1945 dưới tiêu đề “Một trong những cuốn sách quan trọng nhất trong thế hệ chúng ta” đã góp phần đưa Hayek trở thành nhân vật danh tiếng và công trình của ông trở thành cuốn sách bán chạy nhất ở Mĩ từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1945. Người dịch hoàn toàn đồng ý với Lawrence Frank khi ông viết trên tạp chí Saturday Review of Literature vào tháng 5 năm 1945 rằng bản rút gọn “có phần sắc sảo hơn” cả chính văn, và xin được giới thiệu với độc giả talawas.

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2008

Chủ nghĩa xã hội và khoa học

Kỳ III: Chủ nghĩa xã hội và khoa học

F.A. HayekĐinh Tuấn Minh dịch

VII.
Việc thuyết phục những người theo CNXH rằng hoạch định tập trung là phi hiệu quả tốn rất nhiều thời gian. Những người hoạt động thực tiễn có lẽ sẽ chấp nhận điều này chẳng cần bằng lý lẽ mà chỉ cần qua việc nhìn vào ví dụ cảnh báo về hệ thống kiểu Nga-Xô; tuy nhiên, các lý thuyết gia đương đại chỉ chầm chậm thoái lui khỏi cái lập trường quan điểm được tạo dựng bởi các nhà sáng lập chủ nghĩa Marx và được tiếp nối duy trì bởi những lý thuyết gia hàng đầu cho tới tận cách đây chỉ khoảng độ 50 năm. Cho dù thế, ở một mức độ nào đó họ đã cố ý tạo ra cái ấn tượng rằng họ đã đánh bại đầy thuyết phục những đợt công kích dữ dội của những kẻ phê phán thù địch, do họ đã từ bỏ hết lập trường này đến lập trường khác để đưa ra những giải pháp mới hơn cho vấn đề.

Chủ nghĩa xã hội và khoa học

Kỳ II: Chủ nghĩa xã hội và khoa học


F.A. HayekĐinh Tuấn Minh dịch
IV.

Vậy bây giờ cho phép tôi đóng vai nhà mô phạm. Tôi sẽ cố gắng chỉ ra một cách chính xác những loại xét đoán giá trị nào có khả năng chấp nhận được trong thảo luận khoa học và những loại nào thì không thể. Khởi điểm của chúng ta phải là một chân lý logic (logical truism): từ các tiền đề logic chứa đựng chỉ những mệnh đề về nhân-quả, chúng ta sẽ không thể suy ra được các kết luận về điều chúng ta phải làm. Một mệnh đề [thuần túy nhân – quả] như thế sẽ chẳng dẫn đến bất kỳ một hành động nào chừng nào chúng ta vẫn không biết (hay không đồng ý) đâu là những hậu quả đáng muốn và không đáng muốn [của hành động]. Nhưng một khi chúng ta đưa vào cùng các tiền đề logic ban đầu của chúng ta bất kỳ một mệnh đề nào về tầm quan trọng hay mức độ nguy hại của các mục đích hay hậu quả khác nhau của hành động, thì chúng ta có thể rút ra các chuẩn mực khác nhau thuộc mọi chủng loại đòi hỏi hành động phải tuân thủ. Chúng ta rõ ràng chỉ có thể bàn luận nghiêm túc về các vấn đề xã hội với những người mà chúng ta cùng có chung ít nhất một số giá trị. Tôi nghi ngờ liệu chúng ta có thể thực sự hiểu biết ai đó nói gì nếu như chúng ta không chia sẻ những giá trị chung nào đó với anh ta.

Chủ nghĩa xã hội và khoa học

Kỳ I: Chủ nghĩa xã hội và khoa học [*]
By tqvn2004
Created 2007-10-29 07:50
Tóm tắt của dịch giả: Thuyết phục những người theo chủ nghĩa xã hội (CNXH) rằng dự án kinh tế - chính trị của họ là sai lầm thực sự là một công việc khó khăn. Vấn đề ở đây không phải nằm ở chỗ những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân không thể đưa ra được những lý giải khoa học xác đáng mà lại nằm ở chỗ những người theo CNXH không muốn nghe những lý giải đó bởi vì họ tin rằng họ có những hệ giá trị khác. Trong bài luận này Hayek chỉ ra rằng thực ra tất cả chúng ta, bất kể thuộc phe phái nào, đều chia sẻ những niềm tin cơ bản, cụ thể là (i) niềm tin vào trách nhiệm cá nhân và (ii) niềm tin vào việc duy trì một trật tự hoà bình dựa trên một số các qui tắc trừu tượng để các cá nhân trao đổi được với nhau. Nếu những người theo CNXH cũng đồng ý như vậy, thì dự án xây dựng CNXH, dù là theo kiểu hoạch định tập trung hay theo kiểu chính phủ can thiệp vào thị trường vì lợi ích của của một giai cấp nào đó, không tránh khỏi việc dẫn đến những hậu quả tồi tệ. Sau những lập luận ngắn gọn và sâu sắc của mình, Hayek kết luận: “Về mặt đạo đức, CNXH không thể tạo dựng mà chỉ phá hủy nền tảng của tất cả các giá trị đạo đức: tự do và trách nhiệm cá nhân. Về mặt chính trị, nó sớm hay muộn dẫn tới chính phủ toàn trị. Về mặt vật chất, nó sẽ làm tổn hại đáng kể quá trình tạo ra của cải, nếu không muốn nói, nó là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo trên thực tế”.

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2008

Siêu Tư Bản và Thể Chế Dân Chủ

Nguyễn Quốc Khải
Người Việt & Vietnam Review


“Chúng ta có thể ở trong tình trạng hoặc chúng ta có một số ít người rất giầu có hoặc chúng ta có thể chế dân chủ. Nhưng chúng ta không thể có cả hai.”

Bill Gates, Sr.
(Luật sư và cha của Bill Gates, Jr., Chủ Tịch của công ty Microsoft).

Sự khác biệt giữa dân chủ và tư bản

Dân chủ có nghĩa là con người tự do. Tư bản có nghĩa là thị trường tự do. Dân chủ và tư bản cùng có một triết lý chính trị chung, nhưng cũng chỉ là hai phương pháp thử nghiệm nhằm giải quyết những vấn đề của con người trong những điều kiện không chắc chắn. Trong khi đó thì cộng sản hoàn toàn thất bại khi áp dụng chế độ kinh tế chỉ huy, tước đoạt sự tự do của con người, để giải quyết nhu cầu vật chất của con người, trong những điều kiện chắc chắn giả tạo.

Tư bản là về lãnh vực kinh tế. Dân chủ là về lãnh vực chính trị. Hai thể chế này có mục tiêu khác nhau. Kinh tế nhắm sản xuất nhiều sản phẩm và dịch vụ, tức là phúc lợi của con người. Chính trị ấn định luật lệ và quyền hạn của con người trong xã hội.

Dân Chủ và Phát Triển

Hoàng Xuân Đài

Phát triển-trước, dân chủ-sau,
Dân chủ-trước, phát triển-sau,
that's the question Hậu Shakespeare

1. Phát triển-trước, dân chủ-sau
2. Dân chủ-trước, phát triển-sau
3. Việt Nam: từ chuyển đổi hệ thống đến chuyển đổi xã hội

Phát triển-trước, dân chủ-sau hay dân chủ-trước, phát triển-sau?

Từ gần nửa thế kỷ nay, trường phái ‘phát triển-trước, dân chủ-sau’ có phần được nhiều tín đồ vì họ cho rằng phát triển sẽ tạo các điều kiện cho dân chủ, sẽ giúp gia tăng số người biết đọc biết viết, thành hình một giới trung lưu, và nuôi dưỡng những cách cư xử có tính toàn cầu (cosmopolitan), những tiền đề cho dân chủ. Ngoài ra, chủ trương này thích hợp với những đòi hỏi của tình thế- Chiến tranh Lạnh-, các nước giàu mạnh phương Tây ủng hộ và viện trợ các quốc gia chuyên quyền vì không muốn các nước này rơi vào quỹ đạo của Liên bang Xô viết.